Thứ Năm, 27 tháng 4, 2023

Ruột phản âm của thai nhi: Có sự đồng thuận quốc gia về việc xác định và báo cáo không?

 

Giới thiệu:

Saving Babies' Lives Care Bundle Phiên bản 2 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định và báo cáo chính xác tình trạng tăng âm ruột để cải thiện kết quả của bà mẹ và trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, không có sự đồng thuận quốc gia để hướng dẫn các nhà siêu âm trong việc xác định và báo cáo âm ruột của thai nhi. Nghiên cứu hai giai đoạn này nhằm mục đích phát triển sự đồng thuận quốc gia để hướng dẫn các chuyên gia siêu âm về việc xác định, phân loại và báo cáo về ruột phản âm của thai nhi trong quá trình quét dị thường trong tam cá nguyệt thứ hai của Chương trình Sàng lọc Dị thường Thai nhi (FASP). Các kết quả của Giai đoạn 1 được trình bày để nắm bắt thông lệ quốc gia hiện tại của các nhà siêu âm trong việc xác định nó.

Phương pháp:

Một cuộc khảo sát bảng câu hỏi trực tuyến đã được triển khai để thu thập dữ liệu số và văn bản miễn phí. Phân tích số liệu bằng thống kê mô tả. Những người tham gia được tuyển dụng thông qua phương tiện truyền thông xã hội và thông qua các mạng lưới và tổ chức chuyên nghiệp.

Kết quả:

Tổng cộng có 95 người tham gia hoàn thành bảng câu hỏi trong khoảng thời gian 11 tuần. Thực hành phổ biến trên khắp nước Anh bao gồm các nhà siêu âm sử dụng một phương pháp chủ quan để xác định ruột hồi âm của thai nhi và so sánh với xương của thai nhi. Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn trong xương thai nhi được sử dụng và tần số đầu dò thường được sử dụng để đánh giá độ hồi âm của ruột. Xác nhận ruột phản âm được thực hiện khi siêu âm ở tuần thứ 20 trong 58% trường hợp, 32% sau khi khoa thai nhi xem xét và 10% còn lại không chắc chắn khi nào xác nhận.

Phần kết luận:

Mặc dù có một thực tế phổ biến trong việc xác định và báo cáo ruột của thai nhi có âm vang ở một số khu vực, nhưng vẫn có sự khác biệt trong thực hành của bác sĩ siêu âm trong dịch vụ sàng lọc quốc gia của Anh. Nghiên cứu này cho phép đối chiếu dữ liệu cơ bản, cung cấp các bước đầu tiên hướng tới phát triển hướng dẫn cho kỹ thuật viên siêu âm trong việc xác định và báo cáo sự xuất hiện này.

SIÊU ÂM GÂN ACHILLES

Gân Achilles là gân khỏe nhất trong cơ thể con người. Gân Achilles là nguyên nhân phổ biến gây ra khuyết tật do thoái hóa, viêm hoặc chấn thương cấp tính. Chấn thương cấp tính thường gặp nhất ở bệnh nhân dưới 55 tuổi, trong đó nhóm phổ biến nhất là bệnh nhân từ 20 đến 39 tuổi, gần như nhiều ở nhóm tuổi 40-59 1,2 . Tỷ lệ đứt gân Achilles nói chung là 1,8 trên 100.000 người-năm ở Hoa Kỳ và nam giới chiếm 77% số ca chấn thương 1 . Việc tham gia vào các hoạt động thể thao đòi hỏi nhiều năng lượng, chẳng hạn như bóng rổ, quần vợt và bóng đá, là cơ chế chấn thương được báo cáo phổ biến nhất.

Giải phẫu siêu âm bình thường

Gân Achilles là một cấu trúc đồng nhất với kiến ​​trúc dạng sợi điển hình. Gân phát sinh từ điểm nối cơ gân gần như một tấm gân tăng âm trong cơ phẳng như được chụp từ bắp chân sau. Sau đó, gân ngày càng trở nên hình trứng và gần như tròn ở phần giữa. Sau đó, gân bắt đầu phẳng ra trên xương gót vì các sợi có một phần chèn rộng trên bề mặt sau của xương gót. Các sợi chèn dễ bị dị hướng khi đường cong từ sau ra trước ra khỏi mặt phẳng của chùm tia siêu âm. Không nên nhầm lẫn điều này với một vết rách và một thao tác đơn giản bằng gót chân có thể sửa chữa hiện vật. Bề mặt của gân vẫn phải nhẵn và, tùy thuộc vào mức độ căng của gân tại thời điểm quét, nên được dạy.  

Gân tại điểm chèn xương gót không được lớn hơn 6 mm theo chiều AP như được đo trên chế độ xem SAX. Điều này nên được đo ở xương gót và ở bất kỳ khu vực nào dày lên tối đa ngoài cách đo thông thường.

Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2023

Hướng dẫn cơ bản về hội chứng mệt mỏi kinh niên: Triệu chứng, nguyên nhân, điều trị, và giải pháp tự nhiên

Hội chứng mệt mỏi kinh niên (CFS), còn được gọi là viêm não tủy cơ (ME), là một rối loạn tàn tật và phức tạp. Bài viết này cung cấp các thông tin cơ bản về triệu chứng, nguyên nhân, cách điều trị và các giải pháp tự nhiên cho chứng bệnh này.

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC), ước tính CFS ảnh hưởng tới hơn 2.5 triệu người Mỹ, [trong đó] trên 90% người bệnh không được chẩn đoán. CDC ước tính căn bệnh này gây thiệt hại cho nền kinh tế Hoa Kỳ khoảng 17 đến 24 tỷ USD hàng năm vì các hóa đơn y tế và mất thu nhập.

Căn bệnh này gây ra sự mệt mỏi quá mức về thể chất và tinh thần kéo dài trong ít nhất 6 tháng, thường ảnh hưởng đến phụ nữ nhiều hơn đàn ông. Các triệu chứng trở nên nặng hơn khi hoạt động thể chất và tinh thần. Không giống như cảm giác mệt mỏi thông thường, hội chứng mệt mỏi kinh niên không cải thiện đáng kể khi nghỉ ngơi.

Do sự thiếu hiểu biết rõ ràng về căn bệnh này, nên nguyên nhân, cách phòng ngừa và điều trị đều là những chủ đề của nghiên cứu và tranh luận y học.

Những triệu chứng và các dấu hiệu sớm của hội chứng mệt mỏi kinh niên là gì?

Người bị CFS thường mệt mỏi quá mức và không cải thiện khi nghỉ ngơi. Người bệnh không thể thực hiện các hoạt động thông thường hoặc thực hiện không tốt như trước đây. Đôi khi, CFS có thể khiến họ phải nằm liệt giường.

CFS có xu hướng trở nặng hơn đi khi hoạt động thể chất và tinh thần. Các bác sĩ gọi đây là tình trạng khó chịu sau gắng sức (PEM). Các triệu chứng CFS khác bao gồm các vấn đề với giấc ngủ (mất ngủ hoặc ngủ không ngon giấc), suy nghĩ và tập trung (“sương mù não”), đau đớn về thể chất không đặc hiệu, chóng mặt/choáng váng.

Những người bị CFS có thể không giống như bị bệnh. Tuy nhiên, họ có các biểu hiện sau:

  • Không thể hoạt động như trước khi bị bệnh
  • Bị suy giảm khả năng hoàn thành các công việc hàng ngày, như rửa chén hoặc nấu ăn
  • Thường gặp khó khăn để duy trì công việc, đi học, và hòa nhập trong đời sống gia đình và xã hội.

CFS có thể trở thành căn bệnh kinh niên và tàn tật trầm trọng. Theo CDC, có ít nhất 1/4 bệnh nhân phải nằm liệt giường hoặc ở nhà một thời gian dài trong lúc bị bệnh.

Các triệu chứng khác có thể bao gồm:

  • Các vấn đề về giấc ngủ, như chứng mất ngủ.
  • Đau cơ và/hoặc khớp.
  • Đau đầu.
  • Đau họng hoặc đau các tuyến mà không sưng tấy.
  • Các triệu chứng nặng hơn khi gắng sức về thể chất và tinh thần.
  • Các vấn đề về tập trung, trí nhớ ngắn hạn, khó nói hoặc hiểu lời nói.
  • Các triệu chứng giống như cúm.
  • Chóng mặt hoặc buồn nôn.
  • Nhịp tim nhanh hoặc không đều.

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2023

ĐÁNH GIÁ NANG BUỒNG TRỨNG

Siêu âm qua âm đạo để đánh giá số lượng nang noãn ở hang vị của bệnh nhân là một chỉ số đáng tin cậy về dự trữ buồng trứng. Đánh giá dự trữ buồng trứng bằng tài liệu về số lượng nang trứng (AFC) là một dấu hiệu cho khả năng sinh sản của phụ nữ. AFC là tổng số lượng nang trứng của cả hai buồng trứng. Hơn nữa, dự trữ của mỗi buồng trứng cũng có thể được tính toán độc lập, được gọi là số nang trên mỗi buồng trứng.(FNPO). Khi sử dụng FNPO, buồng trứng có số lượng nang trứng cao hơn nên được đề cập đến trong quá trình đọc chính tả và đánh giá. AFC được đánh giá vì nhiều lý do, bao gồm đánh giá vô sinh nữ, chẩn đoán hình ảnh trước khi thực hiện các thủ thuật hỗ trợ sinh sản, dự đoán thời điểm mãn kinh và đánh giá rối loạn chức năng rụng trứng do các rối loạn như hội chứng buồng trứng đa nang, cùng với các chỉ định lâm sàng khác (1). 

Khả năng sinh sản cũng được đánh giá bằng cách thu thập hormone Anti-Müllerian (AMH) của bệnh nhân, là một glycoprotein được tiết ra bởi buồng trứng. AMH giúp kiểm soát các hormone khác gây ra nang trứng và sự phát triển của trứng trong chu kỳ kinh nguyệt. Mức AMH của bệnh nhân cũng có thể giúp đánh giá dự trữ buồng trứng của bệnh nhân. Việc sử dụng cả nồng độ AMH và siêu âm qua âm đạo để đếm các nang noãn ở buồng trứng là một khía cạnh quan trọng trong đánh giá và lập kế hoạch sinh sản của phụ nữ (1). Người ta ước tính rằng vô sinh ảnh hưởng đến khoảng một trong bảy cặp vợ chồng ở Hoa Kỳ (4). 

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2023

DÂY THẦN KINH TRỤ

Dây thần kinh trụ bắt nguồn từ rễ thần kinh C8-T1. Dây thần kinh đi xuống giữa động mạch cánh tay cho đến khi chèn cơ ức đòn chũm vào xương cánh tay. Sau đó, dây thần kinh xuyên qua cân cơ và đi vào khoang sau của cánh tay. Thần kinh chạy dọc theo mặt sau trong của xương cánh tay, đi vào đường hầm hình trụ ở mỏm trên lồi cầu trong. Trong cánh tay, dây thần kinh trụ, dây thần kinh giữa và dây thần kinh quay nằm gần nhau. Do đó, có thể hữu ích khi quét các dây thần kinh từ các vị trí giải phẫu đã biết ở gần để phân biệt các dây thần kinh khi quét càng gần. Tổn thương dây thần kinh trụ ở cánh tay thường gặp nhất là do lực kéo lên dây thần kinh do trật khớp vai ra trước, vai bị giập mạnh, chấn thương do lực tác động mạnh hoặc chấn thương xuyên thấu. 

QUY TRÌNH THẦN KINH TRỤ

Giao thức được thực hiện có thể được điều chỉnh theo mức độ thương tích nghi ngờ. Giao thức nên bắt đầu với thủ phạm có khả năng nhất. Ví dụ, nếu bệnh nhân bị đau ở giữa khuỷu tay, ngứa ran và yếu ở ngón thứ 4 và thứ 5, rất có thể đó là vấn đề về ống cổ tay. Do đó, việc quét toàn bộ chiều dài của dây thần kinh trụ có thể không cần thiết trừ khi bệnh cảnh lâm sàng không rõ ràng hoặc nghi ngờ hoặc tìm thấy nhiều cấp độ trong quy trình.  

Quy trình siêu âm dây thần kinh trụ bắt đầu ở cấp độ của cánh tay. Bác sĩ quét dây thần kinh trụ ở nhánh trước trong theo trục ngắn, trượt dọc theo dây thần kinh và đánh giá cấu trúc và đường kính. Các dây thần kinh thon dần. Ở cánh tay gần nhất, dây thần kinh thường có đường kính đơn lẻ đồng nhất. Tuy nhiên, có một biến thể giải phẫu bình thường, trong khi dây thần kinh, khi nó tiến đến khuỷu tay, sẽ có nhiều bó chi phối từ 2-4 bó trở lên là bình thường. Những bó này giảm âm và lớn hơn so với nhìn thấy ở dây thần kinh giữa ở cổ tay. Ví dụ, bó dây thần kinh có thể có hình “chuột Mickey” hoặc hình “thùng kép”. Miễn là có chất béo phản âm xen kẽ giữa các bó này, ngăn cách dây thần kinh với mô xung quanh, điều này là bình thường. Có các phép đo kích thước được công bố cho các điểm cắt của kích thước dây thần kinh trụ. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của tác giả, dây thần kinh trụ hầu như không bao giờ lớn hơn diện tích mặt cắt ngang 0,10 cm vuông và trung bình là 0,6 cm vuông diện tích mặt cắt ngang. Chỉ dựa vào kích thước là không đủ, và cần chú ý đến những thay đổi cấu trúc của dây thần kinh và các triệu chứng.


Thứ Ba, 17 tháng 1, 2023

Lợi ích của quả kiwi đối với đường tiêu hóa

Lợi ích của quả kiwi đối với đường tiêu hóa

# Khoa tiêu hóa # Y tế gia đình # Chuyên khoa nội # Dinh dưỡng trị liệu # Đa chuyên khoa

Docquity Vietnam


Mở đầu

Có nhiều yếu tố dẫn đến sự hình thành của các triệu chứng rối loạn đường tiêu hóa chức năng, bao gồm tuổi tác, chế độ ăn, lối sống, thuốc điều trị, rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột, tăng tính thấm đường ruột, viêm đường ruột mức độ thấp và một số các bệnh lý mắc kèm như lo âu và trầm cảm.

Chỉ có 22% bệnh nhân bị táo bón tìm tới bác sĩ để được tư vấn, và những bệnh nhân này thường không thỏa mãn với các biện pháp điều trị1. Thuốc nhuận tràng chẳng hạn như thuốc làm mềm phân, thuốc nhuận tràng kích thích và chất độn phân thường được kê đơn. Tuy những biện pháp này có hiệu quả để làm tăng tần suất đi vệ sinh và làm mềm phân nhưng lại thường kém được dung nạp2.

Hướng đến khả năng dung nạp của bệnh nhân, nhiều nghiên cứu đã tiến hành khảo sát một số tác nhân dinh dưỡng trong việc hỗ trợ cải thiện các bênh lý ở đường tiêu hóa. Kết quả của một vài nghiên cứu đã gợi ý rằng việc ăn kiwi tươi thường xuyên có thể mang lại nhiều lợi ích. Tuy nhiên, những nghiên cứu này lại được tiến hành trên cỡ mẫu nhỏ3 – 7. Do vậy, Bayer và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu khác và kết quả cho thấy kiwi và những chế phẩm làm từ kiwi có thể làm giảm đau bụng, thoái mái đường tiêu hóa và giảm nhẹ các triệu chứng trên đường tiêu hóa [8]. Một nghiên cứu khác với quy mô lớn hơn, đa trung tâm và ngẫu nhiên có đối chứng được tiến hành và công bố vào năm 2022 trên tạp chí The American Journal of Gastroenterology nhằm làm rõ bằng chứng cho thấy kiwi có những lợi ích nhất định trên đường tiêu hóa. Bài viết xin tóm tắt kết quả nghiên cứu thú vị này tới bạn đọc9.

Đây là nghiên cứu đa trung tâm, mù đôi, ngẫu nhiên có đối chứng với thời gian theo dõi là 16 tuần được tiến hành trên 3 quốc gia: New Zealand, Italy và Nhật Bản. Hiệu quả của việc ăn 2 quả kiwi tươi mỗi ngày (Actinidia chinensis với Actinidia deliciosa) được so sánh với psyllium 7.5 g/ngày trong 4 tuần bằng cách đánh giá thói quen tiêu hóa và sự thoải mái của đường tiêu hóa. Hai quả kiwi tươi/ngày được cho là chứa khoảng 6 g chất xơ. Psyllium liều 7.5 cũng được cho là cung cấp khoảng 6 g chất xơ10 – 12. Việc tiêu thụ tối thiểu 6 g chất xơ từ psyllium được cho là mang đến hiệu quả bình thường hóa thói quen tiêu hóa ở bệnh nhân tiêu hóa. Psyllium được cân nhắc là lựa chọn đầu tay cho bệnh nhân tiêu hóa (ở cả bệnh nhân hội chứng ruột kích thích với triệu chứng nổi trội là táo bón và bệnh nhân táo bón chức năng)9, 13.

Fun facts về quả kiwi

Kiwi được khám phá và khai thác kinh tế vào thế kỷ 20. Kiwi là loại cây ăn quả địa phương ở khu vực rừng núi và đồi ôn đới phía Tây Nam Trung Quốc. Những người truyền giáo vào thế kỷ 19 có thể là những người có đóng góp to lớn vào sự phân bố của thực vật và ngành trồng trọt. Những mẫu vật phẩm đầu tiên của Actinidia chinensis được gửi đến Châu Âu lần đầu tiên vào khoảng năm 1750 bởi Pierre Noël Le Chéron d'Incarville và sau đó vào khoảng năm 1843 – 1845 bởi Robert Fortune. Ngày nay, New – Zealand là quốc gia sản xuất nhiều kiwi nhất trên thế giới14.

Bảng 1 cung cấp một số thông tin về thành phần dinh dưỡng của kiwi. Ở Italy, nhờ vào hàm lượng vitamin C cao, kiwi được biết đến rộng rãi với cái tên “frutto della salute” – nghĩa là loại hoa quả lành mạnh (healthy fruit)15.

Bảng 1. Thành phần dinh dưỡng của quả kiwi tươi

Kết quả nghiên cứu

Trong khoảng thời gian từ 12/06/2014 – 17/06/2017, 184 người tham gia nghiên cứu được vận động tham gia nghiên cứu. Trong đó có 136 người tham gia nghiên cứu là nữ giới và 48 người tham gia nghiên cứu là nam giới, tỷ lệ giới tính này thống nhất với tỷ lệ hiện hành được báo cáo của táo bón. Tuổi trung bình của những người tham gia nghiên cứu là 30.5 tuổi ở Nhật Bản, 36.9 tuổi ở Italy và 44.8 tuổi ở New Zealand.

Hai tuần sau khi được vận động vào nghiên cứu, người tham gia nghiên cứu xây dựng thói quen ghi lại nhu động ruột (tuần suất, tính trọn vẹn, tính tự phát, hình dạng phân, thuốc nhuận tràng sử dụng và mức độ căng thẳng).

Sau 4 tuần được điều trị với biện pháp điều trị được phân nhóm ban đầu, người tham gia nghiên cứu được đổi nhóm điều trị trong 4 tuần sau khi đã trải qua giai đoạn “wash out” kéo dài 4 tuần.

Tổng cộng có 169 người tham gia nghiên cứu hoàn thành nghiên cứu một cách trọn vẹn. Sau giai đoạn 4 tuần điều trị đầu tiên, bệnh nhân táo bón chức năng được ăn kiwi cho thấy có sự gia tăng trung bình 1.53 nhu động ruột/tuần (có ý nghĩa thống kê). Bệnh nhân mắc hội chứng ruột kích thích với triệu chứng nổi trội là táo bón tăng 1.73 nhu động ruột trung bình/tuần (có ý nghĩa thống kê). Đối với nhóm điều trị bằng psyllium, chỉ có nhóm bệnh nhân mắc hội chứng ruột kích thích với triệu chứng nổi trội là táo bón có tần suất nhu động ruột tăng có ý nghĩa thống kê (1.87/tuần) hoặc giảm các triệu chứng tiêu hóa có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, cả 2 nhóm điều trị (kiwi tươi và psyllium) đều cho thấy sự cải thiện mức độ thoải mái của đường tiêu hóa có ý nghĩa thống kê. Tần suất nhu động ruột ở nhóm người khỏe mạnh không tăng.

Nhóm điều trị bằng kiwi tươi báo cáo phân mềm nhất quán, giảm căng thẳng và chất lượng cuộc sống được nâng cao hơn so với thời điểm bắt đầu tham gia nghiên cứu. Những báo cáo về đặc điểm của phân và mức độ căng thẳng của nhóm kiwi nhất quán và khả quan hơn của nhóm được điều trị bằng psyllium6.

Bàn luận

Cùng với những bằng chứng đã có trước đây, kết quả nghiên cứu này lại một lần nữa khẳng định hiệu quả của kiwi tươi đối với bệnh nhân táo bón. Việc tiêu thụ 2 quả kiwi/ngày có thể được khuyến cáo cho bệnh nhân bị táo bón như một biện pháp hiệu quả và an toàn.


Tài liệu tham khảo

  1. Bharucha AE, Wald A. Chronic Constipation. Mayo Clin Proc. 2019;94(11):2340-57.
  2. Basilisco G, Italian Society of Neurogastroenterology Motility (SINGEM) Study Group. Patient dissatisfaction with medical therapy for chronic constipation or irritable bowel syndrome with constipation: analysis of N-of-1 prospective trials in 81 patients. Aliment Pharmacol Ther. 2020;51(6):629-36.
  3. Chang C-C, Lin Y-T, Lu Y-T, Liu Y-S, Liu J-F. Kiwifruit improves bowel function in patients with irritable bowel syndrome with constipation. Asia Pacific Journal of Clinical Nutrition. 2010;19(4):451-7.
  4. Chan AOO, Leung G, Tong T, Wong NYH. Increasing dietary fiber intake in terms of kiwifruit improves constipation in Chinese patients. World Journal of Gastroenterology. 2007;13(35):4771-5.
  5. Cunillera O, Almeda J, Mascort JJ, Basora J, Marzo-Castillejo M. Improvement of functional constipation with kiwifruit intake in a Mediterranean patient population. An open, non-randomized pilot study. Revista española de nutrición humana y dietética. 2015;19(2):10.
  6. Chey SW, Chey WD, Jackson K, Eswaran S. Exploratory Comparative Effectiveness Trial of Green Kiwifruit, Psyllium, or Prunes in US Patients With Chronic Constipation. Am J Gastroenterol. 2021;116(6):1304-12.
  7. Rush EC, Patel M, Plank LD, Ferguson LR. Kiwifruit promotes laxation in the elderly. Asia Pacific Journal of Clinical Nutrition. 2002;11(2):164-8.
  8. Bayer SB, Frampton CM, Gearry RB, Barbara G. Habitual Green Kiwifruit Consumption is Associated with a Reduction in Upper Gastrointestinal Symptoms - A Systematic Scoping Review. Advances in nutrition (Bethesda, Md). 2022.
  9. Gearry R, Fukudo S, Barbara G, Kuhn-Sherlock B, Ansell J, Blatchford P, Eady S, Wallace A, Butts C, Cremon C, Barbaro MR, Pagano I, Okawa Y, Muratubaki T, Okamoto T, Fuda M, Endo Y, Kano M, Kanazawa M, Nakaya N, Nakaya K, Drummond L. Consumption of two green kiwifruit daily improves constipation and abdominal comfort - results of an international multicentre randomised controlled trial. Am J Gastroenterol. 2022 Dec 20. doi: 10.14309/ajg.0000000000002124.
  10. Attaluri A, Donahoe R, Valestin J, Brown K, Rao SSC. Randomised clinical trial: dried plums (prunes) vs. psyllium for constipation. Alimentary Pharmacology & Therapeutics. 2011;33(7):822-8.
  11. Ashraf W, Park F, Lof J, Quigley EM. Effects of psyllium therapy on stool characteristics, colon transit and anorectal function in chronic idiopathic constipation. Aliment Pharmacol Ther. 1995;9(6):639-47.
  12. Gélinas P. Preventing constipation: a review of the laxative potential of food ingredients. International Journal of Food Science & Technology. 2013;48(3):445-67.
  13. Lacy BE, Mearin F, Chang L, Chey WD, Lembo AJ, Simren M, et al. Bowel Disorders. Gastroenterology. 2016;150(6):1393-407.e5.
  14. Richardson DP, Ansell J, Drummond LN. The nutritional and health attributes of kiwifruit: a review. Eur J Nutr. 2018 Dec;57(8):2659-2676. DOI: 10.1007/s00394-018-1627-z.
  15. S Department of Agriculture (2016) Green Kiwifruit. USDA National Nutrient Database for Standard Reference, Release 28 (slightly revised). Version: May 2016. US Department of Agriculture (USDA), Agricultural Research Service (ARS), Nutrient Data Laboratory, Beltsville (MD). http://www.ars.usda.gov/ba/bhnrc/ndl

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2022

Hiệp hội Tiêu hóa Anh (BSG) 2022: Hướng dẫn kiểm soát khó tiêu chức năng

 # Gastroenterology # Internal medicine # General Practitioner # Pharmacist

Docquity Vietnam


MỞ ĐẦU

Hướng dẫn kiểm soát khó tiêu chức năng của Hiệp hội Tiêu hóa Anh (British Society of Gastroenterology – BSG) được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1996. Từ đó đến nay, đã có nhiều bằng chứng mới cơ chế bệnh sinh, chẩn đoán cũng như kiểm soát khó tiêu chức năng. Cần lưu ý rằng, khó tiêu chức năng là nguyên nhân chính của những trường hợp khó tiêu trên lâm sàng và khó tiêu chức năng cũng là một trong những bệnh lý rối loạn trục não – ruột (disorder gut – brain interaction – DGBI). Mục tiêu chính của hướng dẫn điều trị này là tổng hợp tất cả những bằng chứng mới về khó tiêu chức năng trong hướng dẫn kiểm soát khó tiêu chức năng cập nhật năm 2022, bao gồm cả cách tiếp cận chẩn đoán ban đầu khi bệnh nhân đến phòng khám do khó tiêu.

Đội ngũ Docquity tóm tắt hướng dẫn chẩn đoán và kiểm soát khó tiêu chức năng của Hiệp hội Tiêu hóa Anh năm 2022 đến bạn đọc nhằm giúp bạn đọc có những kiến thức cập nhật mới về chủ đề này.

KHUYẾN CÁO VỀ VIỆC ĐỐI THOẠI GIỮA BÁC SĨ – BỆNH NHÂN, CHẨN ĐOÁN VÀ THĂM DÒ KHÓ TIÊU CHỨC NĂNG

Tiêu chí phân loại và chẩn đoán

Trong 35 năm vừa qua, định nghĩa khó tiêu đã được tiến hóa từ một định nghĩa rộng, bao gồm triệu chứng bất kỳ có liên quan đến dạ dày và tá tràng (ợ nóng, buồn nôn hoặc nôn mửa) cho đến một định nghĩa chỉ bao gồm một số triệu chứng đau hoặc cảm giác nóng ở thượng vị, đầy bụng sau ăn hoặc no sớm. Ợ nóng đơn đọc không còn được xem là triệu chứng của khó tiêu. Nôn được xem là triệu chứng không điển hình và nếu bệnh nhân có nôn thì nên cân nhắc đến một số bệnh lý khác. Khó tiêu chức năng được chẩn đoán trong tình huống giả sử bệnh nhân không có bất thường về cấu trúc. Do vậy, để đưa ra chẩn đoán, theo định nghĩa cần phải kiểm tra để loại trừ trường hợp bệnh nhân có bất thường cấu trúc, bệnh nhân mắc bệnh hệ thống hoặc chuyển hóa.

Có hơn 80% bệnh nhân khó tiêu được chẩn đoán khó tiêu chức năng nhờ nội soi. Tuy nhiên khó tiêu chức năng được phát hiện dựa trên những tiêu chí chẩn đoán dựa trên triệu chứng được phát triển và hình thành bởi Rome Foundation (bảng 1). Theo phân loại của Rome Foundation, khó tiêu chức năng được chia làm 2 kiểu phụ chính: hội chứng khó tiêu sau ăn (postprandial distress syndrome – PDS) và hội chứng đau thượng vị (epigastric pain syndrome – EPS) (bảng 1).

Khó tiêu chức năng và liệt dạ dày là 2 bệnh lý được định hình dựa trên triệu chứng và có sự chồng lấp giữa triệu chứng của 2 bệnh lý này, do đó không thể phân biệt được hoàn toàn 2 bệnh lý nếu chỉ dựa trên triệu chứng hoặc test làm rỗng dạ dày.

Bảng 1. Tiêu chí của Rome lần thứ IV cho khó tiêu chức năng

Chẩn đoán và kiểm soát khó tiêu chứng năng

Tổng quan

Đa số bệnh nhân khó tiêu đều do khó tiêu chức năng là nguyên nhân chính, do vậy thuật ngữ khó tiêu ở trung tâm chăm sóc ban đầu và tuyến chăm sóc thứ 2 gần như đồng nghĩa với khó tiêu chức năng. Trung tâm chăm sóc ban đầu là điểm liên lạc đầu tiên của bệnh nhân khi bị khó tiêu. Các triệu chứng trên đường tiêu hóa chiếm 10% khi thăm khám ở trung tâm chăm sóc ban đầu, trong số những trường hợp có biểu hiện triệu chứng trên đường tiêu hóa này, khó tiêu chức năng chiếm đến 50%.

Khuyến cáo

  • Bác sĩ nên lưu ý rằng đa số bệnh nhân khó tiêu đều do khó tiêu chức năng. Khó tiêu chức năng là nguyên nhân chính dẫn đến các triệu chứng sau khi kiểm tra (khuyến cáo mạnh; chất lượng bằng chứng thấp).

Khai thác tiền sử bệnh ở bệnh hân khó tiêu

Tiền sử lâm sàng ucar bệnh nhân khó tiêu nên được khai thác bắt đầu bằng những thông tin liên quan đến thời gian và trạng thái của triệu chứng. Bác sĩ nên lưu ý khai thác khi triệu chứng được khởi phát do bệnh nhân thường có xu hướng chỉ nhớ đến thời điểm khi triệu chứng trở nặng. Thông tin này đặc biệt quan trọng, vì triệu chứng kéo dài gợi ý đến khó tiêu chức năng nhiều hơn là các bệnh lý nội tạng.

Bệnh nhân nên được hỏi về tất cả những triệu chứng của đường tiêu hóa trên. Bác sĩ nên thăm hỏi về đau hoặc nóng rát thượng vị, no sớm, đầy bụng sau ăn, ợ nóng, buồn nôn, nôn, nôn ra máu, ợ hơi, ói mửa và khó nuốt. Sụt cân cũng thường gặp ở bệnh nhân khó tiêu chức năng. Đối với khó tiêu, hướng dẫn đánh giá bệnh nhân được nghi ngờ ung thư dạ dày – thực quản từ Viện Y tế Quốc gia về Chất lượng điều trị, Vương quốc Anh (National Institute for Health and Care Excellence – NICE) khuyến cáo: (i) bệnh nhân ≥ 55 tuổi bị khó tiêu và sụt cân nên được tiến hành khẩn cấp nội soi chờ 2 tuần; (ii) bệnh nhân ≥ 55 tuổi đang được điều trị khó tiêu kháng trị nên được tiến hành nội soi không khẩn cấp và (iii) bệnh nhân ≥ 55 tuổi bị khó tiêu kèm buồn nôn hoặc nôn hoặc tăng số lượng tiểu cầu nên được tiến hành nội soi không khẩn cấp. Tất cả những triệu chứng của đường tiêu hóa trên dẫn đến nghi ngờ ung thư dạ dày – thực quản được trình bày trong bảng 2.

Bảng 1. Triệu chứng và biểu hiện ở đường tiêu hóa trên đáng cảnh báo dẫn đến nghi ngờ ung thư dạ dày – thực quản theo NICE

Trong trường hợp bệnh nhân không có biểu hiện và triệu chứng đáng cảnh báo, chẩn đoán có khả năng nhất vẫn là khó tiêu chức năng nếu bệnh nhân bị đau hoặc nóng rát thượng vị, no sớm và/hoặc đầy bụng sau ăn (theo tiêu chí Rome đã nhắc đến ở trên). Nội soi thường không làm thay đổi chẩn đoán.

Một số tiền sử bệnh khác có liên quan bao gồm tiền sử phẫu thuật do nhầm lẫn giữa triệu chứng của khó tiêu chức năng với nguyên nhân khác chẳng hạn như sỏi mật, đau không liên quan đến đường tiêu hóa kéo dài hoặc rối loạn chức năng gợi ý chẩn đoán khó tiêu chức năng. Việc đảm bảo bệnh nhân không có tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư dạ dày – thực quản hoặc bệnh celiac cũng rất quan trọng. Những thay đổi về chế độ ăn, tiêu thụ cồn hoặc uống thuốc làm thay đổi nhu động ruột chẳng hạn như opioid hoặc NSAID cũng có liên quan. Những thông tin cần khác thác được trình bày ngắn gọn trong hình 1.

Hình 1. Phác đồ chẩn đoán khó tiêu chức năng

Khuyến cáo

  • Nếu bệnh nhân không có biểu hiện của đường tiêu hóa trên đáng cảnh báo, bác sĩ nên chẩn đoán khó tiêu chức năng nếu bệnh nhân có biểu hiện đau hoặc nóng rát thượng vị gây khó chịu, no sớm và/hoặc đầy bụng sau ăn kéo dài trong hơn 8 tuần (khuyến cáo: mạnh; mức độ bằng chứng: rất thấp).

Kế hoạch chẩn đoán và kiểm soát

Việc xây dựng niềm tin và mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân thông qua thấu cảm và lắng nghe tích cực là rất quan trọng. Bác sĩ nên giải thích rõ ràng với bệnh nhân rằng khó tiêu chức năng là bệnh lý mạn tính, có triệu chứng tái lặp và thay đổi thường xuyên nhưng không liên quan đến việc làm tăng nguy cơ ung thư hoặc tử long. Khó tiêu chức năng cũng nên được giải thích là một rối loạn của hệ trục não – ruột, do vậy khó tiêu chức năng có thể bị ảnh hưởng bởi chế độ ăn, căng thẳng, nhận thức, hành vi hoặc cảm xúc.

Khuyến cáo

  • Xây dựng mối quan hệ giữa bác sĩ – bệnh nhân hiệu quả và thấu cảm và chia sẻ sự thấu hiểu là mấu chốt trong việc kiểm soát khó tiêu chức năng. Điều này giúp làm giảm sử dụng nguồn lực chăm só y tế và cải thiện chất lượng cuộc sống (khuyến cáo mạnh; mức độ bằng chứng rất thấp)
  • Việc chẩn đoán khó tiêu chức năng, cơ chế bệnh sinh và bản chất của bệnh lý nên được giải thích rõ ràng với bệnh nhân. Khó tiêu chức năng nên được giải thích là một bệnh lý liên quan đến rối loạn hệ trục não – ruôt, do vậy khó tiêu chức năng có thể bị ảnh hưởng bởi chế độ ăn, căng thẳng, nhận thức, hành vi và đáp ứng cảm xúc với triệu chứng (khuyến cáo mạnh; mức độ bằng chứng rất thấp)

Kiểm soát khó tiêu ở trung tâm chăm sóc ban đầu

Khuyến cáo

  • Xét nghiệm máu toàn bộ nên được tiến hành ở bệnh nhân ≥ 55 tuổi bị khó tiêu và làm xét nghiệm huyết thanh trong bệnh celiac ở tất cả bệnh nhân khó tiêu chức năng và có triệu chứng chồng lấp với hội chứng ruột kích thích (khuyến cáo: mạnh; mức độ bằng chứng: thấp)
  • Nếu không có triệu chứng và biểu hiện của đường tiêu hóa trên đáng cảnh báo khác nào được ghi nhận, nội siu khẩn cấp chỉ nên tiến hành ở bệnh nhân ≥ 55 tuổi bị khó tiêu đi kèm với sụt cân hoặc bệnh nhân > 40 tuổi đến từ vùng có nguy cơ ung thư dạ dày – thực quản tăng hoặc có tiền sử gia đình mắc ung thư dạ dày – thực quản (khuyến cáo mạnh, mức độ bằng chứng rất thấp).
  • Nội soi không khẩn cấp chỉ được cân nhắc ở bệnh nhân ≥ 55 tuổi đang điều trị khó tiêu kháng trị hoặc bị khó tiêu kèm tăng tiểu cầu hoặc buồn nôn hoặc nô (khuyến cáo mạnh; mức độ bằng chứng rất thấp)
  • CT bụng khẩn cấp chỉ được cân nhắc ở bệnh nhân ≥ 60 tuổi bị đau bụng và sụt cân để loại từ ung thư tụy (khuyến cáo mạnh; mức độ bằng chứng rất thấp)
  • Tất cả bệnh nhân bị khó tiêu khác nên được tiến hành xét nghiệm H.pylori không xâm lấn và nếu nhiễm thì nên được điều trị (khuyến cáo mạnh; mức độ bằng chứng cao)
  • Việc điều trị thành công H.pylori chỉ nên được xác nhận ở bệnh nhân có nguy cơ ung thư dạ dày (khuyến cáo mạnh; mức độ bằng chứng cao)
  • Bệnh nhân không nhiễm H.pylori nên được điều trị bằng các liệu pháp ức chế acid theo kinh nghiệm (khuyến cáo mạnh; mức độ bằng chứng cao).

KHUYẾN CÁO VỀ LỰA CHỌN ĐIỀU TRỊ ĐẦU TAY CHO BỆNH NHÂN KHÓ TIÊU CHỨC NĂNG

Cần phải lưu ý rằng khó tiêu chức năng cũng giống như các bệnh lý liên quan đến hệ trục não – ruột khác, thuốc điều trị là gần như không có và đa số các biện pháp điều trị cũng có hiệu lực khiêm tốn. Việc điều trị chỉ nhằm mục đích cải thiện triệu chứng, cải thiện chức năng xã hội và chất lượng cuộc sống. Mặc dù có ít bằng chứng cho thấy thay đổi lối sống có thể cải thiện triệu chứng, tuy nhiên thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng về việc tập thể dục aerobic phối hợp với các biện pháp kiểm soát kinh điển cho thấy lợi ích vượt trội hơn trong việc kiểm soát triệu chứng hơn là các biện pháp kiểm soát kinh điển đơn độc. Hình 2 thể hiện phác đồ điều trị khó tiêu chức năng.

Hình 2. Điều trị khó tiêu chức năng

Khuyến cáo

  • Tất cả bệnh nhân khó tiêu chức năng được khuyến nghị tập thể dục aerobic thông thường (khuyến cáo mạnh; chất lượng bằng chứng rất thấp).
  • Không có đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo về biện pháp điều trị thông qua chế độ ăn, bao gồm chế độ ăn chứa ít oligopsaccharide, disaccharide và monosaccharide có thể lên men và polyol ở bệnh nhân khó tiêu chức năng (khuyến cáo yếu; mức độ bằng chứng rất thấp)
  • Thuốc điều trị đầu tay cho bệnh nhân khó tiêu chức năng âm tính với H.pylori hoặc sau khi không đáp ứng điều trị với các biện pháp tiệt trừ H.pylori
  • Chất đối kháng thụ thể histamine2 có thể hiệu lực để điều trị khó tiêu chức năng. Những thuốc điều trị này được dung nạp tốt (khuyến cáo yếu; chất lượng bằng chứng thấp)
  • Thuốc ức chế bơm proton (PPI) là biện pháp hiệu lực để điều trị khó tiêu chức năng. Không có mối quan hệ đáp ứng liều trong điều trị khó tiêu chức năng, do vậy nên sử dụng với liều thấp nhất để kiểm soát triệu chứng. Nhóm thuốc này cũng được dung nạp tốt (khuyến cáo mạnh; chất lượng bằng chứng cao)
  • Một số thuốc làm tăng nhu động thực quản và dạ dày (prokinetic) có thể hiệu lực để điều trị khó tiêu chức năng. Tuy nhiên, hiệu lực biến đổi theo nhóm thuốc và có nhiều nhóm thuốc không khả dụng (khuyến cáo yếu; mức độ bằng chứng: thấp đối chới acotiamide, itopride và mosapride; khuyến cáo mạnh; mức độ bằng chứng trung bình đối với tegaserod).

KHUYẾN CÁO VỀ LỰA CHỌN ĐỀU TRỊ HÀNG HAI CHO KHÓ TIÊU CHỨC NĂNG

Chất điều biến thần kinh não – ruột

Khuyến cáo

  • TCA được sử dụng là chất điều biến thần kinh não – ruột là biện pháp có hiệu lực để điều trị khó tiêu chức năng. Bệnh nhân có thể được khởi đầu điều trị bằng nhóm thuốc này tại trung tâm chăm sóc ban đầu hoặc tuyến chăm sóc cấp 2. Tuy nhiên, bệnh nahan cần được giải thích rõ ràng cơ sở của điều trị cũng như một số tác động bất lợi có thể gặp phải. Bệnh nhân nên được điều bị bắt đầu với liều thấp (ví dụ 10 mg amitriptyline x 1 lần/ngày) và tăng liều dần dần cho đến liều tối đa 30 – 50 mg x 1 lần/ngày (khuyến cáo mạnh; mức độ bằng chứng trung bình)
  • Thuốc chống loạn thần, chẳng hạn như sulpiride 100 mg x 4 lần/ngày hoặc levosulpiride 25 mg x 3 lần/ngày có thể hiệu lực trong điều trị khó tiêu chức năng. Tuy nhiên cần giải thích rõ ràng với bệnh nhân cơ sở điều trị cũng như các tác động bất lợi có thể gặp phải (khuyến cáo yếu; mức độ bằng chứng thấp)
  • Không có bằng chứng chot hấy SSRI có thể sử dụng như một chất điều biến thần kinh não – ruột để mang lại hiệu lực điều trị ở bệnh nhân khó tiêu chức năng (khuyến cáo yếu; mức độ bằng chứng thấp)
  • Không có bằng chứng cho thấy SNRI có thể sử dụng như một chất điều biến thần kinh não – ruột để mang lại hiệu quả điều trị cho bệnh nhân khó tiêu chức năng. Tuy nhiên, vì nhóm thuốc này có hiệu lực trong điều trị các bệnh lý đau mạn tính khác, nên có nhiều nghiên cứu về hiệu lực của nhóm thuốc này đối với khó tiêu chức năng vẫn đang được tiến hành (khuyến cáo yếu; mức độ bằng chứng thấp)
  • Tandospirone 10 mg x 3 lần/ngày có thể có hiệu lực trong điều trị khó tiêu chức năng, nhưng lại không có bằng chứng cho thấy các chất chủ vận 5 0 hydroxytryptamine1A khác (bao gồm buspirone 10 mg x 3 lần/ngày) có hiệu lực. Tuy nhiên, nhiều thử nghiệm khác vẫn đang được tiến hành (khuyến cáo yếu; mức độ bằng chứng thấp)
  • Pregabalin 75 mg x 1 lần/ngày có thể hiệu lực, nhưng thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng khác vẫn cần thiết. Do vậy, pregabalin chỉ được sử dụng trong bối cảnh được chăm sóc bởi bác sĩ chuyên khoa (khuyến cáo yếu; mức độ bằng chứng thấp)
  • Mirtazapine 15 mg x 1 lần/ngày có thể hiệu lực trong điều trị khó tiêu chức năng có biểu hiện nó sớm và sụt cân, tuy nhiên thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng khác vẫn cần thiết (khuyến cáo yếu; mức độ bằng chứng rất thấp).

Liệu pháp hành vi não – ruột

Khuyến cáo

  • Liệu pháp tâm lý giữa các cá nhân có thể hiệu quả trong điều trị các triệu chứng tổng thể của khó tiêu chức năng (khuyến cáo yếu; mức độ bằng chứng rất thấp)
  • Liệu pháp nhận thức – hành vi có thể có hiệu lực trong điều trị triệu chứng tổng thể của khó tiêu chức năng (khuyến cáo yếu; mức độ bằng chức rất thấp)
  • Kiểm soát căng thẳng có thể hiệu lực trong điều trị triệu chứng tổng thể của khó tiêu chức năng (khuyến cáo yếu; mức độ bằng chứng rất thấp)
  • Thôi miên trị liệu có thể có hiệu lực để điều trị triệu chứng tổng thể của khó tiêu chức năng (khuyến cáo yếu; mức độ bằng chứng rất thấp).

KHUYẾN CÁO KIỂM SOÁT BỆNH NHÂN CÓ TRIỆU CHỨNG KHÓ TIÊU CHỨC NĂNG NGHIÊM TRỌNG HOẶC KHÓ TRỊ

  • Bệnh nhân có triệu chứng khó tiêu chức năng nghiêm trọng hoặc khó trị nên được chăm sóc bởi đội ngũ chăm sóc đa ngành (khuyến cáo mạnh; mức độ bằng chứng thấp)
  • Bệnh nhân có triệu chứng khó tiêu chức năng nghiêm trọng hoặc khó trị nên tránh được điều trị bằng opioid hoặc phẫu thuật (khuyến cáo mạnh; mức độ bằng chứng rất thấp)
  • Bệnh nhân có triệu chứng khó tiêu chức năng nghiêm trọng hoặc khó trị bị sụt cân và hạn chế ăn uống nên được đánh giá rối loạn ăn uống, bao gồm rối loạn hấp thu thực phẩm do hạn chế (avoidant restrictive food intake disorder – ARFID) (khuyến cáo mạnh; mức độ bằng chứng rất thấp)
  • Nên phối hợp với bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng sớm để kiểm soát bệnh nhân bị khó tiêu chức năng nghiêm trọng hoặc dai dẳng để tránh đưa ra chế độ ăn bị hạn chế quá mức (khuyến cáo mạnh; mức độ bằng chức rất thấp).

KẾT LUẬN

Khó tiêu chức năng là bệnh lý rối loạn hệ trục não – ruột phức tạp và đa yếu tố. Khó tiêu chức năng cũng là bệnh lý thường gặp nhất trong những phòng khám tiêu hóa ngoại trú. Cách tiếp cận hiệu quả để chẩn đoán và kiểm soát khó tiêu chức năng là bệnh nhân và xã hội. Khuyến cáo đưa ra những khuyến cáo dựa trên bằng chứng mới nhất về khó tiêu chức năng.


NGUỒN

  1. Black CJ, Paine PA, Agrawal A, et a. lBritish Society of Gastroenterology guidelines on the management of functional dyspepsia. Gut. 2022;71:1697-1723.