Thứ Năm, 20 tháng 10, 2022

GUIDELINE WATCH PHẦN 1: Điểm nổi bật của những guideline đáng chú ý trong thực hành năm 2022

 1. HƯỚNG DẪN XỬ TRÍ SỐC NHIỄM TRÙNG (SEPSIS)

Hướng dẫn xử trí sốc nhiễm khuẩn năm 2021 của Hiệp hội Chăm sóc Bệnh nguy kịch Châu Âu (Society of Critical Care Medicine – SCCM) và Hiệp hội Chăm sóc Tích cực Châu Âu (Society of Critical Care Medicine – ESICM) được đưa ra nhằm cập nhật phiên bản cũ được công bố vào năm 2017.

Điểm chính

  • Khuyến cáo tiêm bolus dịch khởi đầu với liều 30 mL/kg được thay đổi mức độ từ khuyến cáo mạnh xuống còn khuyến cáo yếu, do bằng chứng có chất lượng thấp. Tuy nhiên, kỹ thuật hồi sức vẫn nên được bắt đầu nhanh chóng.
  • Nên sử dụng dịch tinh thể cân bằng (balanced crystalloid solution) (chẳng hạn như dịch lactated Ringer) hơn là nước muối thông thường để hồi sức.
  • Liều thuốc vận mạch khởi đầu nên được tiêm bằng đường ngoại biên thay vì chờ đợi việc đặt ống tiêm tĩnh mạch trung tâm.
  • Bệnh nhân đang được điều trị bằng thuốc vận mạch nên được bổ sung corticosteroid đường tiêm tĩnh mạch. Tuy nhiên, vitamin C đường tiêm tĩnh mạch không được khuyến cáo.
  • Bệnh nhân trưởng thành sống sót đến khi xuất viện nên được theo dõi những vấn đề về mặt thể chất, nhận thức và cảm xúc.

Bàn luận

Hướng dẫn mới nhấn mạnh những điểm tiến hóa trong việc kiểm soát bệnh nhân sốc nhiễm trùng trong vòng 5 năm qua. Hướng dẫn vẫn duy trì những nguyên tắc cốt lõi chẳng hạn như điều trị sớm bằn kháng sinh phù hợp. Tuy nhiên, cập nhật mới về tính đồng nhất của dịch truyền đầu tiên trong hướng dẫn có thể gây ra mối lo ngại cho bác sĩ chuyên khoa hồi sức tích cực vì những tác động có hại trên bệnh nhân có tổng trạng yếu, bao gồm bệnh nhân suy tim hoặc mắc bệnh thận mạn. Bổ sung steroid có liên quan đến việc làm tăng hiệu quả điều trị và rút ngắn thời gian nằm viện của bệnh nhân.

2. HƯỚNG DẪN CẬP NHẬT KIỂM SOÁT THUYÊN TẮC HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH

Hiệp hội Bác sĩ Lồng ngực Hoa Kỳ đã đưa ra phiên bản cập nhật của hướng dẫn kiểm soát huyết khối tĩnh mạch năm 2016. Hướng dẫn bao gồm 14 câu hỏi lâm sàng và 32 khuyến cáo.

Điểm chính

  • Bệnh nhân thuyên tắc phổi nhánh dưới phân thùy: Loại trừ huyết khối tĩnh mạch sâu (chẳng hạn như siêu âm). Nếu nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch thấp, việc giám sát được khuyến cáo hơn là sử dụng thuốc kháng đông. Nếu bệnh nhân có nguy cơ tái mắc thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch cao thì thuốc kháng đông được khuyến cáo (khuyến cáo yếu, mức độ bằng chứng thấp).
  • Bệnh nhân tình cờ được phát hiện bị thuyên tắc phổi không triệu chứng (ngoại trừ thuyên tắc phổi nhánh dưới phân thùy): khởi đầu tương tự và thuốc kháng đông trong thời gian dài được khuyến cáo cho bệnh nhân bị thuyên tắc phổi có triệu chứng (khuyến cáo yếu, mức độ bằng chứng trung bình).
  • Bệnh nhân thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch có liên quan đến ung thư: thuốc kháng đông tác động trực tiếp bằng đường uống (direct-acting oral anticoagulants – DOAC chẳng hạn như apixaban, edoxaban hoặc rivaroxaban) nên được dùng trong pha trị liệu (khuyến cáo mạnh, mức độ bằng chứng trung bình). Chú ý đối với bệnh nhân mắc bệnh ác tính trong long ống đường tiêu hóa, apixaban hoặc heparin phân tử lượng thấp là các lựa chọn được ưu tiên để hạn chế nguy cơ xuất huyết.
  • Bệnh nhân mắc hội chứng antiphospholipid: warfarin được ưu tiên hơn DOAC trong suốt pha trị liệu thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (international normalized ratio – INR mục tiêu là 2.5) (khuyến cáo yếu, mức độ bằng chứng thấp).
  • Hút huyết khối cơ học có catheter: được khuyến cáo cho bệnh nhân thuyên tắc phổi kèm tụt huyết áp và có kèm nguy cơ huyết khối cao, điều trị tiêu sợi huyết hệ thống thất bại hoặc sốc có khả năng dẫn dến tử vong trước khi liệu pháp tiêu sợi huyết hệ thống khởi phát tác động. (khuyến cáo yếu, mức độ bằng chứng thấp).
  • Chống huyết khối ban đầu: đối với bệnh nhân có nguy cơ thuyên tắc phổi thấp thì điều trị ngoại trú được khuyến cáo hơn là nhập viện nếu bệnh nhân có thể tiếp cận được với thuốc và nhận được dịch vụ chăm sóc khi điều trị ngoại trú (khuyến cáo mạnh, mắc độ bằng chứng thấp).
  • Pha điều trị kháng đông: DOAC được khuyến cáo hơn là warfarin (khuyến cáo mạnh, mức độ bằng chứng trung bình).
  • Pha kéo dài trị liệu thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (ngoài 3 tháng): kháng đông kéo dài nên được áp dụng cho bệnh nhân thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch không biết rõ nguyên nhân – cụ thể bệnh nhân không có transient risk factors thấp hoặc cao. Nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch tái mắc, nguy cơ xuất huyết và sở thích của bệnh nhân nên được cân nhắc khi đưa ra quyết định điều trị bằng liệu pháp kháng đông kéo dài (khuyến cáo mạnh, mức độ bằng chứng trung bình).
    • Liều thấp apixaban hoặc rivaroxaban được khuyến cáo hơn liều bình thường (khuyến cáo yếu, mức độ bằng chứng thấp)
    • Aspirin được khuyến cáo cho bệnh nhân ngưng thuốc kháng đông (khuyến cáo yếu, mức độ bằng chứng thấp).

Bàn luận

Mắc dù đa số các khuyến cáo trong hướng dẫn đã được áp dụng trong thực hành, tuy nhiên một số khuyến cáo trong hướng dẫn cũng hỗ trợ xây dựng sự nhất quán trong thực hành chăm sóc bệnh thân thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch.

3. HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ GAN NHIỄM MỠ KHÔNG DO RƯỢU

Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (nonalcoholic fatty liver disease – NAFLD) có tỷ lệ mắc cao trong cộng đồng, Hiệp hội Tiêu hóa Hoa Kỳ đã đưa ra chiến lược kiểm soát chugn cho NAFLD.

Điểm chính

  • Nhận diện bệnh nhân có nguy cơ, bệnh nhân có nguy cơ thuộc 3 nhóm sau: (1) mắc đái tháo đường type 2; (2) mắc ≥ 2 nguy cơ chuyển hóa (cụ thể là béo phì trung tâm, triglyceride cao, HDL cholesterol thấp, tăng huyết áp, tiền đái tháo đường); và (3) tình cờ phát hiện gan nhiễm mỡ trên hình ảnh học hoặc do kết quả ALT, AST cao.
  • Sàng lọc bệnh nhân có nguy cơ cho việc tiêu thụ cồn và kiểm tra nồng độ AST và ALT. Bệnh nhân có ALT hoặc AST tăng nên được sàng lọc các bệnh gan khác, đặc biệt là viêm gan B và C.
  • Sàng lọc tình trạng xơ hóa có ý nghĩa về mặt lâm sàng bằng các biện pháp không xâm lấn (FIB – 4). Thang điểm FIB – 4 được tính toán từ tuổi tác, nồng độ ALT, AST, tiểu cầu và có thể tính toán bằng công cụ trực tuyến.
  • Bệnh nhân có nguy cơ thấp với điểm FIB – 4 (< 1.3) có thể được theo dõi hàng ngày ở trung tâm chăm sóc ban đầu. Bệnh nhân có nguy cơ cao với điểm FIB – 4 cao (> 2.67) nên được điều trị bởi các bác sĩ chuyên khoa gan.
  • Bệnh nhân có nguy cơ trung bình với điểm FIB – 4 (1.3 – 2.67) nên được đánh giá độ cứng của gan (chẳng hạn sử dụng thiết bị siêu âm đàn hồi như FibroScan).
  • Bệnh nhân có độ cứng gan thấp (< 8 kPa) nên được theo dõi hàng ngày ở trung tâm chăm sóc ban đầu. Bệnh nhân có nguy cơ trung bình (độ cứng gan 8 – 12 kPa) hoặc nguy cơ cao (độ cứng gan > 12 kPa) nên được theo dõi bởi các bác sĩ chuyên khoa gan. Tuy nhiên, bệnh nhân có nguy cơ trung bình cũng có thể được theo dõi tại trung tâm chăm sóc ban đầu.
  • Hướng dẫn cung cấp những thông tin về việc can thiệp lối sống và điều trị bằng thuốc cho bệnh nhân NAFLD và viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (nonalcoholic steatohepatitis – NASH). Chế độ ăn kiêng kiểu Địa Trung Hải được khuyến cáo. Vẫn chưa có thuốc điều trị nào được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug Administration – FDA) chấp thuận để điều trị NASH nhưng những tác nhân khác như vitamin E, pioglitazone và chất chủ vận thụ thể glucagon – like peptide – 1 (GLP – 1) có thể được cân nhắc ở một số nhóm bệnh nhân.

Bàn luận

Hướng dẫn điều trị mang đến nhiều giá trị trong thực hành, đặc biệt là đối với những bác sĩ làm việc ở trung tâm chăm sóc ban đầu. Đối với những vấn đề chưa thực sự chắc chắn, nhóm tác giả cho rằng nên chia sẻ quyết định điều trị với bệnh nhâ. Tuy nhiên, hướng dẫn vẫn chưa thực sự cân nhắc đến những vùng miền không có sẵn những bác sĩ chuyên khoa về gan.

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2022

Hàm lượng mỡ gan được đánh giá bằng siêu âm chế độ B thông thường và hồ sơ chuyển hóa ở bệnh nhân không đái tháo đường: Ý nghĩa đối với thực hành lâm sàng

 

Giới thiệu:

Một số nghiên cứu đã chứng minh mối tương quan thuận giữa nhiễm mỡ gan nặng và các thay đổi chuyển hóa; tuy nhiên, một số nghiên cứu đã đề cập đến mối liên quan tiềm ẩn giữa các mức độ nhiễm mỡ khác nhau và các mô hình lâm sàng ở một dân số không mắc bệnh tiểu đường.

Phương pháp:

Chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang trên 223 người không mắc bệnh tiểu đường. Mức độ nghiêm trọng của tình trạng nhiễm mỡ được đánh giá bằng siêu âm B-mode. Chúng tôi phân tích hồ sơ lipid và glucose theo mức độ nghiêm trọng của nhiễm mỡ gan. Giá trị tốc độ lọc cầu thận ước tính (eGFR) cũng được ghi lại để điều tra tác động tiềm tàng của nhiễm mỡ đối với chức năng thận.

Kết quả:

Bệnh nhân nhiễm mỡ được phát hiện có lượng insulin trong máu và giá trị trung bình của đường huyết tương lúc đói cao hơn so với bệnh nhân không bị nhiễm mỡ. Mức độ lipoprotein mật độ cao giảm đáng kể chỉ được quan sát thấy ở những bệnh nhân nhiễm mỡ nặng hoặc trung bình. Tất cả các mức độ nhiễm mỡ đều có liên quan đến việc tăng nồng độ triglycerid, điều này có ý nghĩa hơn trong tình trạng nhiễm mỡ nặng. Phân tích phân nhóm theo chỉ số khối cơ thể cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa bệnh nhân gầy có máu nhiễm mỡ và bệnh nhân gầy không có máu nhiễm mỡ đối với mức triglycerid (p = 0,002) và lipoprotein tỷ trọng cao (p = 0,019). Cuối cùng, những bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm mỡ cho thấy tỷ lệ lọc cầu thận ước tính <90 ml / phút cao hơn.

Sự kết luận:

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2022

ĐAU HỖN HỢP - 9 CÂU HỎI ĐỂ XÁC ĐỊNH CÁC LOẠI ĐAU CHỦ YẾU GIÚP CHẨN ĐOÁN TỐT HƠN

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu: phác thảo một cách tiếp cận có phương pháp để đánh giá lâm sàng đối với những bệnh nhân có biểu hiện đau cấp tính, bán cấp hoặc mãn tính và có thể xác định những người bị đau hỗn hợp.1

Phương pháp: Các tác giả đề xuất sử dụng chín câu hỏi đơn giản, cung cấp cho bác sĩ lâm sàng một khuôn khổ để xác định các cơ chế đau chủ yếu hoạt động trong bệnh nhân. Freynhagen và cộng sự mô tả như một ví dụ về công việc chẩn đoán trong một tình huống ngắn về một bệnh nhân đau hỗn hợp “điển hình” biểu hiện đau thắt lưng mãn tính.1

1. Bạn cảm thấy chính xác cơn đau của mình ở đâu? Vui lòng đánh dấu các khu vực đau trong bản vẽ đau này.
Cơ sở lý luận:
 Việc sử dụng hình vẽ cơn đau cho phép hình dung nhanh các vùng đau này, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chẩn đoán.1

2. Bạn sẽ dùng từ gì để mô tả cơn đau của mình? 
Cơ sở lý luận: Mặc dù cơn đau có thể là duy nhất ở mỗi người, nhưng có những từ cụ thể được bệnh nhân sử dụng có thể mô tả các loại đau khác nhau.1

3. Bạn đã trải qua cơn đau của mình bao lâu rồi?
Cơ sở lý luận:
 Đau mãn tính nên gợi nhắc bác sĩ lâm sàng nghĩ đến đau hỗn hợp ít nhất là một chẩn đoán phân biệt.

Tình trạng đau thần kinh thường mãn tính trong khi đau cấp tính có liên quan đến đau do thụ cảm.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng bệnh nhân đau thần kinh phải có tiền sử giai đoạn cấp tính.1

4. Trên thang điểm 0-10, mức độ đau của bạn khi nghỉ ngơi và khi vận động như thế nào? 
Cơ sở lý luận: Bệnh nhân bị đau với các đặc điểm đau thần kinh thường báo cáo điểm số đau cao hơn khi nghỉ ngơi và khi vận động so với những bệnh nhân có đặc điểm đau thụ cảm.1

5. Bạn có cảm thấy đau liên tục, nhiều hơn khi cử động hay nhiều hơn khi nghỉ ngơi?
Cơ sở lý luận:
 Đau thụ cảm liên quan nhiều hơn đến đau khi vận động, trong khi đau thần kinh liên quan đến đau tự phát khi nghỉ ngơi. Đau hỗn hợp liên quan đến đau cả khi vận động và khi nghỉ ngơi.1

6. Cơn đau của bạn có liên quan đến bất kỳ nguyên nhân xác định nào không? Nó đã bắt đầu và tiến triển như thế nào? 
Cơ sở lý luận: Đau giác tiến triển như một phản ứng đối với chấn thương hoặc tác nhân kích hoạt có thể xác định được. Đau thần kinh liên quan đến cơn đau dường như tiến triển tự phát.1

7. Bạn đã làm gì để điều trị cơn đau của mình? 
Cơ sở lý luận: Đáp ứng với thuốc có thể cung cấp một số manh mối về loại đau cơ bản. Bệnh nhân đau hỗn hợp có thể có phản ứng với cả thuốc chống thụ cảm và thuốc chống đau thần kinh nhưng giảm đau không triệt để.1

8. Cơn đau của bạn có khiến bạn đau khổ về tâm lý không?
Cơ sở lý luận:
 Bất kỳ loại đau đớn nào cũng có thể dẫn đến đau khổ về tâm lý theo thời gian. Các triệu chứng đau khổ tâm lý rõ ràng hơn đối với đau thần kinh so với đau thụ cảm. So với đau thần kinh đơn thuần, đau hỗn hợp có liên quan đến chất lượng cuộc sống (QoL) tổng thể tệ hơn cũng như QoL thể chất và tinh thần thấp hơn.1

9. Bạn có gặp phải bất kỳ triệu chứng hoặc thay đổi nào khác khiến bạn lo lắng không? 
Cơ sở lý luận: Câu hỏi này dùng để xác định bất kỳ dấu hiệu cảnh báo nào - các dấu hiệu và triệu chứng có thể chỉ ra một bệnh lý nghiêm trọng hoặc đe dọa tính mạng và gợi ra manh mối thêm về bản chất của tình trạng đau của bệnh nhân.1

Độ chính xác chẩn đoán của đường kính vỏ bọc dây thần kinh quang học được đo bằng siêu âm mắt trong cuộc tấn công cấp tính của bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm đánh giá sự thay đổi áp lực nội sọ bằng cách đo ONSD trước và sau khi điều trị ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD).

Phương pháp

Nghiên cứu được thiết kế như một phân tích tiền cứu, trong đó 56 COPD trong đợt cấp và 50 tình nguyện viên. Mức độ nghiêm trọng của COPD được xác định bởi Thang điểm khó thở của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Sửa đổi (mMRC). Các phép đo được thực hiện bằng siêu âm ở mắt và đầu dò tuyến tính ở cả hai mắt.

Kết quả

Cả ONSD bên phải và bên trái đều cao hơn ở bệnh nhân so với đối chứng ( P = 0,017  ) và giảm dần sau khi điều trị ( P  = 0,021). Trong phân tích ROC về khả năng dự đoán COPD, các ONSD mắt phải cho thấy tiềm năng dự đoán COPD với độ đặc hiệu% 75,7 và độ nhạy% 68,1 tại ngưỡng cắt 0,455 (AUC: 0,727; P  = .0001;% 95CI: 0,609–0,833). Tương tự như mắt phải, ONSD bên trái thể hiện độ đặc hiệu% 74,4 và độ nhạy% 67 ở giá trị ngưỡng 0,505 (AUC: 0,718; P  = .0001;% 95CI: 0,608–0,841).

Sự kết luận

Phép đo ONSD với sự trợ giúp của siêu âm đáy mắt có thể là một công cụ chẩn đoán hữu ích đối với COPD có triệu chứng biểu hiện với một cơn cấp tính.

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2022

KHỐI U BUỒNG TRỨNG - SIÊU ÂM

Tổn thương phần phụ là một phát hiện phổ biến ở phụ nữ và đặt ra một thách thức lâm sàng vì ung thư buồng trứng là một căn bệnh gây tử vong cao. Tuy nhiên, hầu hết các khối phụ là lành tính, được hưởng lợi từ một cách tiếp cận thận trọng hơn. Trong đánh giá tiền phẫu, siêu âm qua ngã âm đạo đóng vai trò then chốt trong việc đánh giá các đặc điểm hình thái tương quan với nguy cơ ác tính. Bóng âm là sự mất tiếng vang đằng sau các thành phần hấp thụ âm thanh, chẳng hạn như vôi hóa hoặc mô xơ, chủ yếu được tìm thấy trong các tổn thương lành tính. Tuy nhiên, nhận biết bóng âm là một kỹ năng khó thành thạo và tính hữu dụng của nó có thể không được đánh giá cao.

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2022

Sự phát triển của cơ quan sinh dục bên ngoài bình thường của thai nhi trong suốt quá trình mang thai

Trong tổng quan này, chúng tôi mô tả sự phát triển bình thường của cơ quan sinh dục thai nhi trong suốt thai kỳ cũng như việc xác định cơ quan sinh dục nam và nữ bình thường trên siêu âm. Chúng tôi sử dụng cơ quan sinh dục bất thường và không rõ ràng làm công cụ minh họa để hỗ trợ xác định cơ quan sinh dục bình thường và nhận biết một số bất thường phổ biến nhất trong sự phát triển của cơ quan sinh dục ngoài.

Sự phát triển của thai nhi: Các giai đoạn tăng trưởng

Các giai đoạn phát triển từng tháng trong thai kỳ

Ba tháng đầu

Tam cá nguyệt đầu tiên sẽ kéo dài từ khi thụ thai đến 12 tuần. Đây thường là ba tháng đầu của thai kỳ. Trong tam cá nguyệt này, trứng đã thụ tinh sẽ thay đổi từ một nhóm tế bào nhỏ thành một bào thai bắt đầu có các tính năng của em bé.

Tháng 1 (tuần 1 đến tuần 4)

Khi trứng đã thụ tinh lớn lên, một túi nước kín hình thành xung quanh nó, dần dần chứa đầy chất lỏng. Đây được gọi là túi ối, và nó giúp tạo đệm cho phôi thai đang phát triển.

Trong thời gian này, nhau thai cũng phát triển. Nhau thai là một cơ quan tròn, dẹt, có nhiệm vụ chuyển chất dinh dưỡng từ mẹ sang thai nhi và chuyển các chất thải từ bào thai. Hãy coi nhau thai là nguồn thức ăn cho thai nhi trong suốt thai kỳ của bạn.

Trong vài tuần đầu tiên, một khuôn mặt nguyên thủy sẽ hình thành với những quầng thâm lớn cho mắt. Miệng, hàm dưới và cổ họng đang phát triển. Các tế bào máu đang hình thành và quá trình tuần hoàn sẽ bắt đầu. Ống "tim" nhỏ bé sẽ đập 65 lần một phút vào cuối tuần thứ tư.

Vào cuối tháng đầu tiên, thai nhi dài khoảng 1/4 inch - nhỏ hơn một hạt gạo.

Tháng 2 (tuần 5 đến tuần 8)

Các đặc điểm trên khuôn mặt tiếp tục phát triển. Mỗi tai bắt đầu như một nếp gấp nhỏ của da ở bên đầu. Những chồi nhỏ cuối cùng phát triển thành cánh tay và chân đang hình thành. Ngón tay, ngón chân và mắt cũng đang hình thành.

Ống thần kinh (não, tủy sống và các mô thần kinh khác của hệ thần kinh trung ương) hiện đã hình thành tốt. Đường tiêu hóa và các cơ quan cảm giác cũng bắt đầu phát triển. Xương bắt đầu thay thế sụn.

Ở thời điểm này, đầu có tỷ lệ lớn so với phần còn lại của cơ thể. Vào khoảng tuần thứ 6, nhịp tim thường có thể được phát hiện.

Sau tuần thứ 8, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe gọi đó là bào thai thay vì phôi thai.

Vào cuối tháng thứ hai, thai nhi dài khoảng 1 inch và nặng khoảng 1/30 ounce.

Tháng 3 (tuần 9 đến 12)

Cánh tay, bàn tay, ngón tay, bàn chân và ngón chân đã được hình thành đầy đủ. Ở giai đoạn này, thai nhi đang bắt đầu khám phá một chút bằng cách thực hiện những hành động như mở và đóng nắm tay và miệng. Móng tay, móng chân đang bắt đầu phát triển và hình thành tai ngoài. Sự bắt đầu của răng đang hình thành dưới nướu. Các cơ quan sinh sản cũng phát triển, nhưng giới tính vẫn khó phân biệt trên siêu âm.

Đến cuối tháng thứ 3, thai nhi đã hình thành đầy đủ. Tất cả các cơ quan và chi (tứ chi) hiện có và sẽ tiếp tục phát triển để trở thành chức năng. Hệ thống tuần hoàn và tiết niệu cũng hoạt động và gan sản xuất mật.

Vào cuối tháng thứ ba, thai nhi dài khoảng 4 inch và nặng khoảng 1 ounce.

Vì sự phát triển quan trọng nhất đã diễn ra, khả năng sẩy thai của bạn giảm xuống đáng kể sau ba tháng.

Tam cá nguyệt thứ hai

Phần giữa của thai kỳ thường được coi là phần tốt nhất của trải nghiệm. Đến thời điểm này, mọi cơn ốm nghén có lẽ đã không còn và cảm giác khó chịu của thời kỳ đầu mang thai cũng tan biến. Thai nhi sẽ bắt đầu phát triển các đặc điểm trên khuôn mặt trong tháng này. Bạn cũng có thể bắt đầu cảm thấy chuyển động khi thai nhi lật và quay trong tử cung. Trong tam cá nguyệt này, nhiều người tìm hiểu xem con của họ sẽ được chỉ định là nam hay nữ khi chào đời. Điều này thường được thực hiện trong quá trình quét giải phẫu (siêu âm kiểm tra sự phát triển thể chất) khoảng 20 tuần.

Tháng 4 (tuần 13 đến 16)

Giờ đây, nhịp tim của thai nhi có thể nghe được thông qua một thiết bị gọi là doppler. Các ngón tay và ngón chân được xác định rõ ràng. Mí mắt, lông mày, lông mi, móng tay và tóc được hình thành. Răng và xương trở nên dày đặc hơn. Thai nhi thậm chí có thể mút ngón tay cái, ngáp, vươn vai và làm khuôn mặt.

Hệ thần kinh đang bắt đầu hoạt động. Các cơ quan sinh sản và bộ phận sinh dục hiện đã phát triển đầy đủ và bác sĩ có thể xem qua siêu âm xem thai nhi sẽ được chỉ định là nam hay nữ khi sinh.

Vào cuối tháng thứ tư, thai nhi dài khoảng 6 inch và nặng khoảng 4 ounce.

Tháng 5 (tuần 17 đến 20)

Ở giai đoạn này, bạn có thể bắt đầu cảm thấy thai nhi di chuyển xung quanh. Thai nhi đang phát triển cơ bắp và vận động chúng. Chuyển động đầu tiên này được gọi là chuyển động nhanh và có thể cảm thấy như rung rinh.

Tóc bắt đầu mọc trên đầu. Vai, lưng và thái dương được bao phủ bởi một lớp lông mịn mềm gọi là lanugo. Lông này bảo vệ thai nhi và thường rụng vào cuối tuần đầu tiên của bé.

Da được bao phủ bởi một lớp phủ màu trắng gọi là vernix caseosa. Chất “sến súa” này được cho là có tác dụng bảo vệ da thai nhi khi tiếp xúc lâu với nước ối. Lớp phủ này bị rụng ngay trước khi sinh.

Vào cuối tháng thứ năm, thai nhi dài khoảng 10 inch và nặng từ 1/2 đến 1 pound.

Tháng 6 (tuần 21 đến 24)

Nếu bạn có thể nhìn vào bên trong tử cung ngay bây giờ, bạn sẽ thấy da của thai nhi có màu đỏ, nhăn nheo và có thể nhìn thấy các tĩnh mạch qua lớp da mờ. Các dấu ngón tay và ngón chân có thể nhìn thấy được. Trong giai đoạn này, mí mắt bắt đầu hé mở và mắt mở ra.

Thai nhi phản ứng với âm thanh bằng cách di chuyển hoặc tăng nhịp đập. Bạn có thể nhận thấy cử động giật nếu thai nhi nấc cụt.

Nếu sinh non , em bé của bạn có thể sống sót sau tuần thứ 23 với sự chăm sóc đặc biệt.

Vào cuối tháng thứ sáu, thai nhi dài khoảng 12 inch và nặng khoảng 2 pound.

Tháng 7 (tuần 25 đến 28)

Thai nhi tiếp tục trưởng thành và phát triển lượng mỡ dự trữ trong cơ thể. Tại thời điểm này, thính giác đã phát triển đầy đủ. Thai nhi thay đổi vị trí thường xuyên và phản ứng với các kích thích, bao gồm âm thanh, cơn đau và ánh sáng. Nước ối bắt đầu giảm dần.

Nếu sinh non, em bé của bạn sẽ có khả năng sống sót sau tháng thứ bảy.

Vào cuối tháng thứ bảy, thai nhi dài khoảng 14 inch và nặng từ 2 đến 4 pound.

Tam cá nguyệt thứ ba

Đây là phần cuối cùng của thai kỳ. Bạn có thể muốn bắt đầu đếm ngược cho đến ngày dự sinh và hy vọng rằng nó đến sớm, nhưng mỗi tuần của giai đoạn phát triển cuối cùng này sẽ giúp thai nhi chuẩn bị chào đời. Trong suốt tam cá nguyệt thứ ba, thai nhi tăng cân nhanh chóng, bổ sung chất béo trong cơ thể sẽ giúp ích sau khi sinh.

Hãy nhớ rằng, mặc dù văn hóa đại chúng chỉ đề cập đến 9 tháng mang thai, bạn thực sự có thể đang mang thai 10 tháng. Mang thai đủ tháng, điển hình là 40 tuần, có thể đưa bạn sang tháng thứ mười. Cũng có thể bạn có thể quá hạn một hoặc hai tuần (41 hoặc 42 tuần). Nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của bạn sẽ theo dõi bạn chặt chẽ khi bạn đến ngày dự sinh. Nếu bạn vượt qua ngày dự sinh và không chuyển dạ tự nhiên, nhà cung cấp của bạn có thể gây ra cho bạn. Điều này có nghĩa là thuốc sẽ được sử dụng để khiến bạn chuyển dạ và sinh con. Đảm bảo nói chuyện với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của bạn trong tam cá nguyệt này về kế hoạch sinh của bạn.

Tháng 8 (tuần 29 đến tuần 32)

Thai nhi tiếp tục trưởng thành và phát triển lượng mỡ dự trữ trong cơ thể. Bạn có thể nhận thấy đá nhiều hơn. Lúc này não bộ phát triển nhanh chóng, thai nhi có thể nhìn và nghe. Hầu hết các hệ thống bên trong đã phát triển tốt, nhưng phổi có thể vẫn chưa trưởng thành.

Thai nhi dài khoảng 18 inch và nặng tới 5 pound.

Tháng 9 (tuần 33 đến tuần 36)

Trong giai đoạn này, thai nhi tiếp tục phát triển và trưởng thành. Phổi gần như được phát triển đầy đủ vào thời điểm này.

Thai nhi có các phản xạ phối hợp và có thể chớp mắt, nhắm mắt, quay đầu, cầm nắm chắc chắn, phản ứng với âm thanh, ánh sáng và xúc giác.

Thai nhi dài khoảng 17 đến 19 inch và nặng từ 5 ½ pound đến 6 ½ pound.

Tháng 10 (Tuần 37 đến 40)

Trong tháng cuối cùng này, bạn có thể chuyển dạ bất cứ lúc nào. Bạn có thể nhận thấy rằng ít chuyển động hơn vì không gian chật hẹp. Lúc này, vị trí của thai nhi có thể đã thay đổi để chuẩn bị chào đời. Lý tưởng nhất là nó hướng xuống tử cung của bạn. Bạn có thể cảm thấy rất khó chịu trong khoảng thời gian cuối cùng này khi thai nhi tụt xuống khung xương chậu của bạn và chuẩn bị chào đời.

Em bé của bạn đã sẵn sàng để gặp gỡ thế giới vào thời điểm này. Chúng dài khoảng 18 đến 20 inch và nặng khoảng 7 pound.